12 trực trong ngày

Thập nhị trực là vòng 12 trạng thái luân phiên theo ngày trong lịch cổ truyền. Trực tính theo tháng tiết khí, mỗi trực có việc nên làm và việc người xưa kiêng.

Một ngày có nhiều yếu tố: trực, sao, thần hoàng đạo hay hắc đạo, ngày kỵ và tuổi người làm việc. Xem ngày tốt theo từng việc cân nhắc tất cả, hoặc mở lịch âm hôm nay.

Thập nhị trực là gì

Thập nhị trực (mười hai trực) là một vòng gồm 12 trạng thái lần lượt đi qua các ngày: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế. Theo lịch cổ truyền, mỗi trực mang một "tính chất" riêng của ngày, giống như mỗi ngày có một nhịp điệu: có ngày hợp mở đầu, có ngày hợp dọn dẹp, có ngày hợp khép lại.

Người xưa dùng 12 trực như một lớp lọc đầu tiên khi chọn ngày cho việc lớn như cưới hỏi, khai trương, động thổ, nhập trạch. Đây là cách xem ngày theo quan niệm truyền thống, cho ta một gợi ý để cân nhắc chứ không phải điều bắt buộc.

Cách tính trực: theo tháng tiết khí, không theo tháng âm

Điểm nhiều người nhầm là tưởng trực tính theo tháng âm lịch. Thực ra trực tính theo tháng tiết khí, và tháng tiết khí bắt đầu từ Lập xuân, không phải từ mùng một. Quy tắc là: ngày nào có địa chi trùng với địa chi của tháng tiết thì ngày đó là trực Kiến. Những ngày kế tiếp lần lượt là Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế.

Ví dụ, tháng tiết Dần bắt đầu từ Lập xuân, nên ngày Dần trong tháng ấy là trực Kiến. Vì tháng tiết dài khoảng 30 đến 31 ngày còn vòng trực chỉ có 12, khi sang một tháng tiết mới, người ta thường gặp hai ngày liền cùng một trực. Đó là chuyện bình thường của cách tính, không phải sai sót.

Sáu trực nghiêng về thuận lợi, sáu trực cần cẩn trọng

Theo cách phân loại phổ biến, các trực Kiến, Trừ, Bình, Định, Thành, Thu, Khai được coi là thuận lợi hơn, còn Mãn, Chấp, Phá, Nguy, Bế là những trực người xưa cẩn trọng hơn. Tuy nhiên "tốt" hay "xấu" ở đây không tuyệt đối: trực nào cũng có việc hợp. Trực Trừ kiêng cưới hỏi nhưng lại hợp dọn nhà, chữa bệnh; trực Phá kiêng hầu hết việc lớn nhưng hợp phá dỡ cái đã cũ.

Cách nhớ dễ nhất là hiểu ý nghĩa của tên gọi: Kiến là dựng, Trừ là bỏ, Mãn là đầy, Bình là cân bằng, Định là yên, Chấp là giữ, Phá là vỡ, Nguy là mong manh, Thành là nên, Thu là gặt, Khai là mở, Bế là đóng. Việc làm khớp với tinh thần của tên gọi thì hợp, trái với tinh thần ấy thì người xưa kiêng.

Dùng trực cho đúng: một yếu tố trong nhiều yếu tố

Một ngày trong lịch cổ truyền còn có nhiều lớp khác: sao trong nhị thập bát tú, thần hoàng đạo hay hắc đạo, các ngày kỵ như Tam Nương hay Nguyệt Kỵ, và tuổi của người làm việc. Vì vậy không nên kết luận chỉ từ trực. Một ngày trực Thành mà rơi vào ngày kỵ thì vẫn cần cân nhắc, ngược lại một ngày trực Bình bình thường nhưng đủ các yếu tố khác lại có thể dùng rất tốt.

Với những việc trọng đại như cưới hỏi, xây nhà, khai trương, thời tiết, sức khỏe và sự thuận tiện của hai họ cũng quan trọng không kém. Chọn ngày là để mọi người yên tâm hơn, không phải điều kiện bắt buộc. Trang Xem ngày tốt của site cân nhắc tất cả các yếu tố này cùng lúc, bạn có thể dùng làm chỗ tham khảo.

Ý nghĩa từng mục

Hỏi đáp

Trực có tính theo tháng âm lịch không?

Không. Trực tính theo tháng tiết khí, bắt đầu từ Lập xuân. Ngày có địa chi trùng địa chi của tháng tiết là trực Kiến, rồi các trực sau nối tiếp theo thứ tự.

Vì sao có lúc hai ngày liền cùng một trực?

Vì tháng tiết dài hơn 12 ngày và vòng trực chỉ có 12 trạng thái. Khi bước sang tháng tiết mới, trực được tính lại từ địa chi của tháng nên thường lặp một trực hai ngày liền.

Gặp ngày trực không tốt có phải hoãn hết mọi việc không?

Không nhất thiết. Theo quan niệm xem ngày, trực nào cũng có việc hợp. Việc nhỏ hằng ngày vẫn làm bình thường, còn với việc lớn, bạn nên cân nhắc thêm các yếu tố khác và điều kiện thực tế của gia đình.

Thấy hữu ích? Gửi trang này cho người thân, bạn bè.

Facebook

Chia sẻ trang này

nhanso.vn Thập nhị trực: 12 trực trong ngày, cách tính và cách xem Giải thích 12 trực Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế: cách tính theo tháng tiết khí và cách dùng khi xem ngày.