Ngày kỵ trong tháng âm lịch

Ba nhóm ngày kỵ phổ biến theo lịch cổ truyền là Tam Nương, Nguyệt Kỵ và Dương Công kỵ nhật. Người xưa kiêng làm việc lớn vào các ngày này; nay hiểu như lời nhắc cẩn trọng.

Một ngày có nhiều yếu tố: trực, sao, thần hoàng đạo hay hắc đạo, ngày kỵ và tuổi người làm việc. Xem ngày tốt theo từng việc cân nhắc tất cả, hoặc mở lịch âm hôm nay.

Ngày kỵ là gì

Trong lịch cổ truyền, ngoài việc xem ngày tốt, người Việt còn có thói quen tránh một số ngày được gọi là ngày kỵ. Đó là những ngày cố định trong tháng âm lịch mà người xưa cho rằng không nên khởi sự việc lớn như cưới hỏi, khai trương, động thổ, xuất hành xa hay ký kết quan trọng.

Hiểu cho đúng, ngày kỵ là một nét văn hóa dân gian, được truyền miệng qua nhiều thế hệ cùng những câu ca dễ nhớ. Nó không phải một điều răn bắt buộc, và cũng không có cơ sở khoa học để khẳng định ngày ấy "có chuyện".

Ba nhóm ngày kỵ phổ biến

Ba nhóm ngày kỵ được nhắc nhiều nhất là:

  • Ngày Tam Nương: mùng 3, 7, 13, 18, 22, 27 âm lịch mỗi tháng. Người xưa kiêng cưới hỏi, khởi công và ký kết quan trọng.
  • Ngày Nguyệt Kỵ: mùng 5, 14, 23 âm lịch mỗi tháng. Câu ca dân gian "mùng năm, mười bốn, hai ba, đi chơi còn thiệt, nữa là đi buôn" nhắc nên tránh việc lớn, đi xa và mở hàng.
  • Ngày Dương Công kỵ nhật: 13 ngày cố định trong năm, mỗi tháng âm lịch một ngày (riêng tháng Bảy có hai ngày). Người xưa kiêng khởi công, cưới hỏi, xuất hành và mọi việc lớn.

Mỗi nhóm có bài viết riêng trên site, giải thích chi tiết danh sách ngày, nguồn gốc dân gian và cách hiểu.

Khi các ngày kỵ trùng nhau

Có những ngày thuộc nhiều nhóm kỵ cùng lúc. Ví dụ, ngày 13 tháng Giêng vừa là Dương Công kỵ nhật vừa là Tam Nương, còn 5 tháng Năm hay 23 tháng Mười vừa là Dương Công kỵ nhật vừa là Nguyệt Kỵ. Những ngày trùng như vậy thường được người xưa cẩn trọng hơn cho việc lớn.

Tuy nhiên, việc nhỏ hằng ngày như đi làm, đi học, nấu cơm, đi chợ, thăm hỏi đều làm bình thường. Người xưa chủ yếu kiêng những việc trọng đại, nên đừng lo lắng quá mức khi thấy lịch hôm nay là ngày kỵ.

Dùng ngày kỵ cho đúng

Lịch cổ truyền cân nhắc nhiều yếu tố, trong đó ngày kỵ là một lớp quan trọng. Các ngày kỵ chỉ là một lớp trong lịch cổ truyền. Một ngày còn có trực, sao trong nhị thập bát tú, thần hoàng đạo hay hắc đạo, giờ hoàng đạo và tuổi người làm việc. Vì vậy không nên chốt chỉ vì một yếu tố. Trang Xem ngày tốt của site cân nhắc tất cả các yếu tố này cùng lúc.

Với việc trọng đại như cưới hỏi, xây nhà, khai trương, nhớ rằng thời tiết, sức khỏe và sự thuận tiện của hai họ cũng quan trọng không kém. Chọn ngày để yên tâm hơn, không phải điều bắt buộc.

Góc nhìn hiện đại

Người hiện đại có lịch dày đặc, nhiều việc như lịch bay, lịch hẹn hay hạn nộp hồ sơ không thể xê dịch. Khi đó, bạn cứ làm và chuẩn bị chu đáo; coi ngày kỵ như lời nhắc kiểm tra lại giấy tờ và kế hoạch dự phòng.

Cũng có thể hiểu ngày kỵ như một nhịp nghỉ: những ngày được giữ lại để làm việc nhỏ, nhìn lại, cân nhắc kỹ trước khi quyết việc lớn. Cách nhìn này giúp ta giữ được nét văn hóa mà không bị gò bó.

Hỏi đáp

Ngày kỵ có phải là ngày nhất định gặp chuyện không tốt không?

Không. Đó chỉ là quan niệm dân gian, không phải dự đoán. Ngày kỵ là lời nhắc cẩn trọng hơn với việc lớn, còn việc nhỏ hằng ngày vẫn làm bình thường.

Có bao nhiêu ngày kỵ trong một tháng âm lịch?

Tam Nương có sáu ngày (mùng 3, 7, 13, 18, 22, 27), Nguyệt Kỵ có ba ngày (mùng 5, 14, 23), Dương Công kỵ nhật mỗi tháng một ngày (riêng tháng Bảy có hai ngày). Một số ngày có thể trùng nhau.

Nếu đám cưới hay khai trương rơi vào ngày kỵ thì sao?

Nhiều gia đình chọn dời sang ngày khác nếu có thể. Nếu lịch không cho phép, bạn hoàn toàn có thể tiến hành, miễn chuẩn bị chu đáo; việc theo hay không tùy niềm tin của từng nhà.

Thấy hữu ích? Gửi trang này cho người thân, bạn bè.

Facebook

Chia sẻ trang này

nhanso.vn Ngày kỵ trong tháng âm lịch: Tam Nương, Nguyệt Kỵ, Dương Công Tổng quan các ngày kỵ trong tháng âm lịch: ngày Tam Nương, Nguyệt Kỵ, Dương Công kỵ nhật. Danh sách ngày cụ thể, ý nghĩa và cách dùng khi xem ngày.